Bộ Tài chính vừa công bố Kế hoạchvay, trả nợ công năm 2026 sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyếtđịnh số 352/QĐ-TTg ngày 27/2/2026, tể hiện rõ quy mô huy động vốn, nghĩa vụ trảnợ cũng như các chỉ tiêu an toàn nợ công trong giai đoạn tới.
Theo kế hoạch, tổng mức vay củaChính phủ năm 2026 dự kiến đạt khoảng 969.796 tỷ đồng. Trong đó, vay để bù đắp bội chi ngân sách vớikhoảng 583.700 tỷ đồng, chiếm 60%. Khoảng 376.005 tỷ đồng, tương đương 39% đượcsử dụng để trả nợ gốc, trong khi chỉ khoảng 1% tương ứng 10.092 tỷ đồng được bốtrí cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài.
Nguồn huy động chủ yếu đến từphát hành trái phiếu Chính phủ trong nước, các khoản vay ODA và vay ưu đãi nướcngoài.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng tính đến phương án phát hành trái phiếu trênthị trường quốc tế và tận dụng các nguồn tài chính hợp pháp khác nhằm đảm bảocân đối ngân sách.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, về nghĩa vụ trả nợ, tổng số nợ phải thanh toán trong năm 2026 ước khoảng534.739 tỷ đồng. Trong đó, trả nợ gốc chiếm 406.165 tỷ đồng và trả lãi cùng cáckhoản phí khoảng 128.574 tỷ đồng.
Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp củaChính phủ chiếm tỷ trọng lớn với tổng cộng 493.405 tỷ đồng, bao gồm cả nợ trongnước và nợ nước ngoài. Ngoài ra, nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản vay ODA vàvay ưu đãi nước ngoài cho vay lại vào khoảng hơn 41.000 tỷ đồng.
Đốivới các khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh, hạn mức bảo lãnh cho Ngân hàng Pháttriển Việt Nam dự kiến tối đa 2.910 tỷ đồng, tương ứng với nghĩa vụ trả nợ gốcđến hạn.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội có hạn mức bảo lãnh tối đa 251 tỷ đồng,với nghĩa vụ trả nợ gốc dự kiến khoảng 790 tỷ đồng.
Ngoài ra, các khoản bảo lãnh chodoanh nghiệp trong và ngoài nước không phát sinh nhu cầu rút vốn mới, song vẫnphát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc khoảng 17.156 tỷ đồng, Bộ Tài chính cho biết.
Ởcấp địa phương, tổng vay của chính quyền địa phương năm 2026 dự kiến đạt 26.079tỷ đồng, trong khi tổng trả nợ gốc khoảng 3.979 tỷ đồng.
Bộ Tài chính đánh giá các chỉ tiêu an toàn nợ côngtiếp tục được kiểm soát trong giới hạn cho phép.
Theo đó, tỷ lệ nợ công so với GDPdự kiến ở mức 35–36%, thấp hơn đáng kể so với trần 60%. Nợ Chính phủ khoảng33–34% GDP so với ngưỡng 50%, còn nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 28–29% GDP,cũng dưới trần 50%.
Song song, nhĩa vụ trả nợ trựctiếp của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước ở mức 20–21%, nằm trong giớihạn 25%. Đáng chú ý, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với kim ngạchxuất khẩu hàng hóa và dịch vụ chỉ khoảng 4–5%, thấp hơn nhiều so với ngưỡngcảnh báo 25%.
Bức tranh chi phí và rủi ro danh mục nợChính phủ cho thấy mặt bằng lãi suất vay vốn được duy trì ở mức hợp lý, với lãisuất bình quân khoảng 3,1%/năm. Nghĩa vụ trả lãi tương đương khoảng 1% GDP, vẫntrong ngưỡng an toàn. Kỳ hạn vay được kéo dài với thời gian đáo hạn bình quânhơn 9 năm, góp phần giảm áp lực trả nợ ngắn hạn.
Bên cạnh đó, rủi rolãi suất được kiểm soát khi phần lớn danh mục nợ có lãi suất cố định, chiếm gần95%. Trong khi đó, tỷ lệ nợ bằngngoại tệ ở mức khoảng 25,6%, cho thấy rủi ro tỷ giá vẫn hiện hữu nhưng khôngquá lớn.
Bộ Tài chính cho biết việc côngbố kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm được đánh giá là bước tiến quan trọngtrong minh bạch hóa thông tin, giúp Việt Nam tiệm cận các thông lệ quốc tế vềquản lý nợ.
Điều này không chỉ góp phần cải thiện điểm số theo công cụ Đánh giáhiệu quả quản lý nợ công (DeMPA) của Ngân hàng Thế giới mà còn tạo điều kiện đểcác tổ chức xếp hạng tín nhiệm và các định chế tài chính tiếp cận nguồn thôngtin đầy đủ, chính thống.
Qua đó, Việt Nam có thêm cơ sở để cải thiện các tiêu chí về minhbạch, quản trị và thể chế trong đánh giá tín nhiệm quốc gia, góp phần hỗ trợmục tiêu nâng hạng tín nhiệm trong thời gian tới. Đây cũng là một trong nhữnggiải pháp cụ thể nhằm triển khai định hướng phát triển kinh tế – xã hội giaiđoạn 2026–2030, hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức “hai con số” như đã đề ra, Bộ Tài chính nhấn mạnh.
Hoàng Sơn