Giao diện Web Giao diện Mobile
   
Tin nóng Data Analyst|Business Information-HN|2|03/31/2022
Tin tức »

Chuyên gia hiến kế phát triển kênh vốn dài hạn, giảm lệ thuộc tín dụng

VNE | 7 giờ trước | 04/10/2026

Với tổng nhu cầu vốn đầu tư ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng trong 5 năm tới, tương đương gần 1,5 nghìn tỷ USD, Việt Nam đứng trước yêu cầu mở rộng đáng kể quy mô huy động nguồn lực cho phát triển. Điều này đòi hỏi sự tham gia lớn hơn của khu vực tư nhân và dòng vốn quốc tế, cùng những thay đổi trong cấu trúc thị trường tài chính…

 

Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lêntrong giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi Việt Nam phải duy trì quy mô đầu tư lớn trongnhiều năm. Với tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến khoảng 40% GDP, khả nănghuy động và cung ứng nguồn lực tài chính sẽ là một trong những yếu tố quyếtđịnh việc hiện thực hóa mục tiêu này.

Thực tế, áp lực này đã thể hiện qua quy mô đầu tư hiệntại. Theo số liệu thống kê, trong9 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt trên 3,11 triệu tỷ đồng,tăng 15,1% so với cùng kỳ, song mới đáp ứng hơn 60% nhu cầu. Khoảng cách giữalượng vốn đã huy động và nhu cầu đầu tư cho thấy dư địa cần bổ sung vẫn còn rấtlớn.

Đáng chú ý, trong 5 năm tới, tổng nhu cầu vốn đầu tưtoàn xã hội được ước tính lên tới 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương gần 1,5 nghìntỷ USD. Khả năng đóng góp từ ngân sách nhà nước dự kiến khoảng 8,5 triệu tỷđồng, chiếm 22%. Phần nguồn lực còn lại, tương đương gần 80%, sẽ phụ thuộc vàokhả năng tham gia của doanh nghiệp tư nhân, các nhà đầu tư trong nước và dòngvốn quốc tế.

Ảnh: Deloitte Việt Nam
Ảnh: Deloitte Việt Nam

“Bài toán vốn củaViệt Nam trong giai đoạn tăng trưởng mới không đơn thuần nằm ở khả năng huyđộng thêm nguồn lực, mà còn ở việc tổ chức lại cấu trúc vốn và nâng cao hiệuquả phân bổ, thay vì chỉ trông đợi vào sự mở rộng tín dụng của hệ thốngngân hàng”, ông Phạm Văn Thinh, Tổng Giám đốc Deloitte Việt Nam cho biết tại Diễn đàn Kinh tế mới Việt Nam lần thứ 4 năm 2026với chủ đề “Chính sách đột phá và sức bật của địa phương, doanh nghiệp” do BanChính sách, chiến lược Trung ương, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Liên đoànThương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đồng chủ trì.

Nhìn vào thị trường Việt Nam hiện nay, tín dụng ngânhàng vẫn là phương thức tài trợ chủ đạo đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh khi tỷ lệ tín dụng/GDP trong năm2025 lên tới 145%.

Đây làkênh có lợi thế về mạng lưới, khả năng tiếp cận khách hàng và năng lực cung ứngvốn tương đối linh hoạt. Tuy nhiên, đặc điểm của nguồn vốn ngân hàng là hoạtđộng cho vay phải gắn với yêu cầu quản trị thanh khoản, cân đối kỳ hạn và kiểmsoát rủi ro.

Trong khi đó, nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, năng lượng haycác ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao thường đòi hỏi lượng vốn banđầu lớn, thời gian triển khai kéo dài và khả năng thu hồi vốn trong nhiều năm.Nếu những nhu cầu này tiếp tục chủ yếu được tài trợ bằng tín dụng, áp lực lênhệ thống ngân hàng sẽ ngày càng rõ nét.

Bởi vậy,định hướng đặt ra không phải thu hẹp vai trò của các ngân hàng, mà là bổ sungnhững cấu phần còn thiếu trong hệ thống tài chính. Ngân hàng tiếp tục đảm nhiệmvai trò cung ứng vốn nền tảng, trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu, cácquỹ đầu tư tư nhân và tín dụng tư nhân cần được phát triển để chia sẻ nhu cầutài trợ của nền kinh tế.

Bên cạnhviệc mở rộng các kênh huy động, hiệu quả đầu tư còn phụ thuộc vào việc lựa chọnlĩnh vực tiếp nhận vốn. Trong điều kiện nguồn lực luôn có giới hạn, việc xác địnhđúng những khu vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng và thúc đẩy năng suất sẽquyết định mức độ đóng góp của dòng vốn đối với tăng trưởng.

Từ địnhhướng chính sách và triển vọng kinh tế Việt Nam, ông Phạm Văn Thinh cho biết Deloitte xác định bốn nhóm lĩnh vực cần ưutiên phân bổ vốn gồm cơ sở hạ tầng, năng lượng, công nghệ và đổi mới sáng tạo,công nghiệp giá trị gia tăng cao và khu vực kinh tế tư nhân. Đây là những lĩnhvực có khả năng bổ trợ lẫn nhau, vừa tạo nền tảng cho hoạt động sản xuất, vừathúc đẩy năng suất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Vì vậy,phát triển thị trường vốn không chỉ nhằm bổ sung tiền cho nền kinh tế mà còn tạora những phương thức tài trợ phù hợp hơn với nhu cầu của doanh nghiệp. Thôngqua phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc tiếp cận các quỹ đầu tư, doanh nghiệpcó thể huy động nguồn lực theo kế hoạch phát triển dài hạn, thay vì phụ thuộchoàn toàn vào khả năng vay vốn và tài sản bảo đảm.

Trong cấu trúc vốnmới, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC) được kỳ vọng góp phần mởrộng khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính, bổ sung một cấu phần mới cho hệ thống huy độngvốn bên cạnh những kênh đang hiện hữu, ông Thinh cho biết.

Lan Anh

Tin khác »